HiemQuy.comHiếm Quý
Tiền cổ Việt Nam qua các triều đại

Tiền thời Mạc và Lê trung hưng: ba thế kỷ phân tranh nhìn qua đồng tiền

Tiền nhà Mạc, tiền vua Lê chúa Trịnh và tiền kẽm Đàng Trong: thế kỷ 16 – 18 có nhiều niên hiệu, nhiều biến thể và nhiều tiền đúc ngoài quan xưởng.

Distant view of an old village market under a large banyan tree in Bac Ninh in the morning, a vendor seen from behind spreading heaps of dark coins on a woven mat

Tiền thời Mạc và Lê trung hưng là tiền đúc trong khoảng thế kỷ 16 đến cuối thế kỷ 18, giai đoạn đất nước chia cắt giữa nhà Mạc và nhà Lê, rồi giữa Đàng Ngoài của vua Lê chúa Trịnh và Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Thời này có nhiều niên hiệu, nhiều biến thể, nhiều đồng nhỏ mỏng và một lượng lớn tiền đúc ngoài quan xưởng; ở Đàng Trong xuất hiện tiền kẽm.

Đây là giai đoạn khiến người phân loại tiền cổ đau đầu nhất, nhưng cũng hấp dẫn nhất. Bài này chia thành ba mảng: tiền nhà Mạc, tiền triều Lê trung hưng ở Đàng Ngoài, và tiền ở Đàng Trong; sau đó bàn về tiền đúc dân gian và gợi ý cách xếp nhóm tiền thế kỷ 16 đến 18 trong một hũ tiền gia đình.

Ba thế kỷ phân tranh và đồng tiền

Năm 1527 Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập nhà Mạc. Không lâu sau, các cựu thần nhà Lê dựng lại triều Lê ở phía nam, mở ra thời Nam – Bắc triều kéo dài hơn nửa thế kỷ. Cuối thế kỷ 16, nhà Lê với sự phò tá của họ Trịnh trở lại Thăng Long; nhà Mạc rút lên Cao Bằng và còn tồn tại tới cuối thế kỷ 17. Song song, họ Nguyễn dần xây dựng vùng đất phía nam thành Đàng Trong.

Chiến tranh, chia cắt và nhiều trung tâm quyền lực cùng lúc tạo ra một bức tranh tiền tệ phức tạp. Mỗi bên cần tiền để vận hành; nguồn đồng thì hạn chế; tiền cũ của Lê sơ và tiền Trung Hoa vẫn lưu hành; dân gian đúc thêm tiền nhỏ để đáp ứng nhu cầu buôn bán. Sử cũ thời này nhiều lần nhắc tới chuyện tiền xấu, tiền mỏng, tiền giả và những lần triều đình bàn cách chấn chỉnh.

Với người sưu tầm, hệ quả là hũ tiền thế kỷ 17, 18 thường có rất nhiều loại khác nhau, trong đó không ít đồng khó xác định. Chấp nhận một tỉ lệ "chưa xác định" trong bảng kê là thái độ đúng khi làm việc với giai đoạn này.

Tiền nhà Mạc

Nhà Mạc có nhiều vua và nhiều niên hiệu. Các đồng tiền thường được nhắc trong tài liệu phổ biến gồm Đại Chính thông bảo gắn với niên hiệu Đại Chính của Mạc Đăng Doanh, Quảng Hoà thông bảo gắn với Mạc Phúc Hải, Vĩnh Định thông bảo và Quang Bảo thông bảo gắn với Mạc Phúc Nguyên. Ngoài ra còn những đồng mà việc quy cho nhà Mạc vẫn đang được bàn.

Một ví dụ về tranh luận là đồng Minh Đức thông bảo. Minh Đức là niên hiệu đầu tiên của Mạc Đăng Dung, nhưng cũng có ý kiến gắn một số đồng Minh Đức với giai đoạn khác. Gặp đồng này, bạn nên ghi "Minh Đức thông bảo, quy thuộc còn bàn" thay vì khẳng định ngay. Tương tự, một số đồng Thái Bình thông bảo đúc muộn cũng có người gắn với họ Mạc ở Cao Bằng.

Tiền Mạc nhìn chung nhỏ và mỏng hơn tiền Lê sơ, chất lượng không đều. Cũng vì vậy, nhiều đồng còn lại bị mòn chữ, khó đọc. Đây là nhóm tiền mà ảnh mẫu tin cậy, tốt nhất là từ bảo tàng hoặc công trình nghiên cứu, có giá trị hơn mọi mô tả bằng lời.

Tiền triều Lê trung hưng ở Đàng Ngoài

Triều Lê trung hưng kéo dài từ thế kỷ 16 đến 1789, nhưng các đợt đúc tiền mang niên hiệu được nhắc nhiều tập trung vào thế kỷ 17 và 18. Bảng dưới chọn những đồng thường gặp trong tài liệu và hũ tiền.

VuaNiên hiệuĐồng tiền thường được nhắcGhi chú
Lê Thần TôngVĩnh Thọ (1658 – 1662)Vĩnh Thọ thông bảoNhiều biến thể nhỏ
Lê Huyền TôngCảnh Trị (1663 – 1671)Cảnh Trị thông bảoKhá thường gặp
Lê Hy TôngChính Hoà (1680 – 1705)Chính Hoà thông bảoTrùng niên hiệu Chính Hoà của nhà Tống, cần phân biệt
Lê Dụ TôngVĩnh Thịnh (1705 – 1720)Vĩnh Thịnh thông bảoThường gặp, nhiều kiểu chữ
Lê Dụ TôngBảo Thái (1720 – 1729)Bảo Thái thông bảoThường gặp
Lê Hiển TôngCảnh Hưng (1740 – 1786)Cảnh Hưng thông bảo và nhiều loại khácNhiều biến thể nhất trong tiền Việt
Lê Mẫn ĐếChiêu Thống (1787 – 1789)Chiêu Thống thông bảoNiên hiệu cuối cùng của nhà Lê

Cảnh Hưng là niên hiệu dài nhất thời Lê trung hưng và để lại số loại tiền nhiều đến mức có những người chơi chỉ chuyên một niên hiệu này. Vì đã có nhiều tài liệu riêng, trang này chỉ nhắc Cảnh Hưng trong bức tranh chung, không đi sâu từng biến thể.

Vì sao tiền thế kỷ 16 – 18 khó xác định hơn các thời khác

Lý do thứ nhất là niên hiệu trùng. Trong ba thế kỷ này có nhà Mạc, nhà Lê, rồi những niên hiệu của các thế lực địa phương; nhiều niên hiệu lại trùng với niên hiệu Trung Hoa các đời trước. Một đồng tiền chỉ mang bốn chữ, không ghi năm, không ghi nơi đúc, nên khi hai chữ niên hiệu đã trùng thì người đọc phải dựa vào phong cách, kích cỡ, chất liệu, những thứ vốn dao động rất nhiều.

Lý do thứ hai là việc đúc lại niên hiệu cũ. Ở nhiều thời, người ta đúc những đồng mang niên hiệu đã qua, có khi là niên hiệu của triều trước, có khi là niên hiệu Tống quen thuộc, vì loại tiền đó được thị trường chấp nhận. Đồng tiền mang chữ "đời Tống" nhưng có thể được đúc ở Việt Nam vài trăm năm sau.

Lý do thứ ba là ghi chép ít. Sử cũ thường chỉ nhắc ngắn rằng năm ấy triều đình cho đúc tiền, cấm tiền xấu, hay đổi cách tính tiền, mà không mô tả đồng tiền trông thế nào. Hiểu biết hiện nay phần lớn dựng lại từ chính hiện vật, từ các hũ tiền có bối cảnh rõ và từ so sánh giữa các bộ sưu tập. Vì vậy, khi đọc tài liệu về tiền thời này, bạn sẽ gặp nhiều cụm như "được quy cho", "có ý kiến cho rằng"; đó là dấu hiệu của sự cẩn trọng, không phải sự mập mờ.

Tiền đúc dân gian và tiền xấu thời Lê – Trịnh

Vì sao có tiền đúc dân gian. Nhu cầu tiền nhỏ để mua bán hằng ngày lớn hơn khả năng đúc của quan xưởng, trong khi nguồn đồng hạn chế. Ở nhiều nơi, người dân và các lò đúc tư nhân làm ra tiền nhỏ, mỏng, pha nhiều chì hoặc kẽm.

Chúng trông thế nào. Thường nhỏ, nhẹ, vành hẹp hoặc gần như không có vành, chữ mờ, có khi sai nét. Nhiều đồng mang niên hiệu cũ của Trung Hoa như các niên hiệu Tống, hoặc những niên hiệu không khớp với bất kỳ triều đại nào.

Có phải tiền giả không. Tuỳ cách nhìn. Ở thời của nó, đây là tiền không do triều đình đúc và nhiều lần bị cấm. Với người sưu tầm hôm nay, chúng là hiện vật thật của đời sống kinh tế thời ấy, khác hoàn toàn với đồ đúc lại gần đây để đánh lừa người mua.

Ghi chép thế nào. Xếp vào một nhóm riêng, ghi chữ đọc được, cân nặng, đường kính. Đừng ép chúng vào một triều cụ thể khi không có căn cứ.

Giá trị tư liệu. Tỉ lệ tiền dân gian trong một hũ tiền phản ánh phần nào tình trạng tiền tệ của nơi và thời hũ được chôn. Đó là lý do người nghiên cứu muốn biết thành phần đầy đủ của hũ, không chỉ những đồng đẹp.

Đàng Trong và sự xuất hiện của tiền kẽm

Ở phía nam, các chúa Nguyễn trong thời gian dài không đặt niên hiệu riêng mà vẫn dùng niên hiệu vua Lê, và lưu thông dựa nhiều vào tiền cũ, tiền Trung Hoa, tiền nhập theo đường buôn bán. Thương cảng như Hội An đón thương nhân Trung Hoa, Nhật Bản, phương Tây, và theo họ là đủ loại tiền.

Vào thế kỷ 18, sử cũ và các nghiên cứu cho biết chính quyền Đàng Trong đã cho đúc tiền kẽm để bù cho việc thiếu đồng. Tiền kẽm nhẹ, dễ đúc nhưng kém bền, nhanh mục trong đất ẩm; tiền kẽm còn lại hôm nay thường xám, rỗ, vỡ, dính vào nhau. Một số đồng như Thái Bình thông bảo, Thiên Minh thông bảo, An Pháp nguyên bảo được nhiều tài liệu gắn với Đàng Trong hoặc với tiền lưu hành ở đó, nhưng việc quy thuộc từng loại vẫn có nhiều ý kiến khác nhau.

Tiền kẽm Đàng Trong là tiền thân của việc nhà Nguyễn sau này đúc song song tiền đồng và tiền kẽm. Với người sưu tầm ở miền Trung và miền Nam, tiền kẽm chiếm một phần đáng kể trong hũ tiền gia đình. Khi cầm tiền kẽm, cần nhẹ tay, không ngâm nước lâu và không cố tách những khối dính chặt bằng lực mạnh.

Xếp nhóm tiền thế kỷ 16 – 18 trong một hũ tiền gia đình

Khi hũ tiền của bạn có nhiều đồng nhỏ, mỏng, đa dạng, trình tự sau giúp giữ trật tự:

  1. Tách tiền Lê sơ ra trước, vì chúng dày, chữ rõ, dễ nhận. Phần còn lại là trọng tâm của bước tiếp theo.
  2. Tách tiền Thanh có chữ Mãn ở mặt lưng và tiền Tống, Minh phổ biến.
  3. Trong phần còn lại, tìm các niên hiệu Lê trung hưng trong bảng phía trên, xếp theo thứ tự thời gian. Cảnh Hưng để riêng một khay vì thường rất nhiều.
  4. Tìm các niên hiệu nhà Mạc; ghi rõ những đồng quy thuộc còn bàn.
  5. Gom tiền kẽm thành một nhóm, xử lý nhẹ tay, ghi tình trạng.
  6. Những đồng nhỏ, mỏng, chữ mờ, niên hiệu lạ đưa vào nhóm "tiền đúc dân gian hoặc chưa xác định".
  7. Ghi số lượng từng nhóm vào bảng kê. Tỉ lệ các nhóm là thông tin có ích nếu sau này bạn muốn nhờ người có chuyên môn xem.

Đừng nản nếu nhóm "chưa xác định" lớn. Ngay cả người chơi lâu năm cũng giữ một khay như vậy và quay lại với nó mỗi khi học thêm được điều gì mới.

Câu hỏi thường gặp

Nhà Mạc có đúc nhiều tiền không?

Nhà Mạc có nhiều niên hiệu và để lại một số loại tiền như Đại Chính, Quảng Hoà, Vĩnh Định, Quang Bảo thông bảo. Tiền Mạc nhìn chung nhỏ, mỏng hơn tiền Lê sơ và không phổ biến bằng. Một số đồng vẫn còn tranh luận về việc có thuộc nhà Mạc hay không.

Vì sao tiền Cảnh Hưng có nhiều loại đến vậy?

Niên hiệu Cảnh Hưng kéo dài gần nửa thế kỷ, tiền được đúc ở nhiều nơi, nhiều đợt, cả trong và ngoài quan xưởng, với nhiều chữ tên tiền và kiểu chữ khác nhau. Đây là chủ đề lớn có nhiều tài liệu riêng; trang này chỉ nhắc nó trong bức tranh chung của thời Lê trung hưng.

Chính Hoà thông bảo là tiền Việt hay tiền Tống?

Có cả hai. Nhà Tống có niên hiệu Chính Hoà đầu thế kỷ 12 với tiền Chính Hoà thông bảo rất phổ biến; Lê Hy Tông cũng dùng niên hiệu Chính Hoà và có tiền mang tên này. Cần so phong cách chữ, cỡ và chất liệu với ảnh mẫu đáng tin để phân biệt.

Tiền kẽm có giá trị sưu tầm không?

Tiền kẽm là hiện vật thật của lịch sử tiền tệ Đàng Trong và nhà Nguyễn, có giá trị tư liệu. Vì kẽm dễ mục nên đồng còn đẹp, đọc rõ chữ không nhiều. Người chơi thường ghi chép tiền kẽm cẩn thận, bảo quản khô ráo, và không cố làm sạch bằng hoá chất.

Tiền đúc dân gian có phải đồ giả không nên giữ?

Không hẳn. Tiền đúc ngoài quan xưởng ở thế kỷ 17, 18 là hiện vật thật của thời đó, phản ánh đời sống kinh tế lúc ấy. Chúng khác với đồ đúc lại gần đây để đánh lừa người mua. Người sưu tầm thường giữ chúng trong một nhóm riêng có ghi chép.

Chiêu Thống thông bảo có phải đồng tiền cuối cùng của nhà Lê không?

Chiêu Thống là niên hiệu cuối cùng của nhà Lê, từ năm 1787 đến 1789, và Chiêu Thống thông bảo là tiền mang niên hiệu đó. Sau đó nhà Tây Sơn làm chủ Thăng Long, mở ra một giai đoạn tiền tệ mới với tiền Quang Trung, Cảnh Thịnh.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183