HiemQuy.comHiếm Quý
Tiền cổ Việt Nam qua các triều đại

Tiền Tây Sơn: Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh, Bảo Hưng thông bảo

Hai mươi bốn năm nhà Tây Sơn để lại bốn niên hiệu trên đồng tiền. Bài giải thích bối cảnh, đặc điểm từng loại và vì sao tiền Tây Sơn nhiều kiểu, không đều.

Wide shot of grassy earthen ramparts and old laterite stones of a ruined citadel near Quy Nhon in Gia Lai under a bright cloudy sky, a lone visitor walking far away

Tiền Tây Sơn là tiền mang niên hiệu các vua nhà Tây Sơn từ 1778 đến 1802: Thái Đức thông bảo của Nguyễn Nhạc, Quang Trung thông bảo và Quang Trung đại bảo của Nguyễn Huệ, Cảnh Thịnh thông bảo và Bảo Hưng thông bảo của Nguyễn Quang Toản. Chúng được đúc trong thời chiến tranh liên miên nên kích cỡ, chất lượng, kiểu chữ rất không đều, với nhiều kiểu mặt lưng khác nhau.

Với người Việt, tên Quang Trung gắn với chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa mùa xuân Kỷ Dậu 1789, nên đồng Quang Trung thông bảo luôn được nhìn bằng một sự trân trọng đặc biệt. Bài này tách những gì hiện vật cho biết khỏi những gì là lời kể, đi lần lượt qua bốn niên hiệu và gợi ý cách nhìn một đồng tiền Tây Sơn cho đúng.

Bối cảnh: một triều đại sinh ra từ chiến tranh

Phong trào Tây Sơn nổi lên năm 1771 ở vùng Tây Sơn, đất Bình Định cũ, nay thuộc tỉnh Gia Lai. Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng hoàng đế, đặt niên hiệu Thái Đức, đóng đô ở thành Hoàng Đế gần Quy Nhơn. Năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi, niên hiệu Quang Trung, rồi tiến quân ra Bắc đánh tan quân Thanh. Sau khi Quang Trung mất năm 1792, con là Nguyễn Quang Toản nối ngôi với niên hiệu Cảnh Thịnh, sau đổi là Bảo Hưng, cho tới khi nhà Tây Sơn sụp đổ năm 1802.

Hơn hai mươi năm ấy gần như không có lúc nào yên: chiến tranh với chúa Nguyễn, với chúa Trịnh, với quân Xiêm, quân Thanh, rồi lại với Nguyễn Ánh. Một triều đại như vậy cần tiền để nuôi quân, trả công, mua lương, trong khi nguồn đồng không dồi dào và quan xưởng phải hoạt động trong điều kiện thiếu ổn định.

Chính bối cảnh đó giải thích vì sao tiền Tây Sơn khác hẳn tiền Lê sơ thời thịnh trị. Chúng mang dấu vết của sự gấp gáp: nhiều cỡ, nhiều độ dày, chữ có khi đẹp có khi vụng, mặt lưng thay đổi. Với người sưu tầm, sự không đều này lại là nguồn biến thể phong phú.

Bốn niên hiệu trên tiền Tây Sơn

Bảng dưới gom các đồng tiền thường được nhắc của nhà Tây Sơn. Mức gặp là ước lượng tương đối trong hũ tiền gia đình và các bộ sưu tập phổ thông.

VuaNiên hiệuĐồng tiềnMức gặp tương đối
Nguyễn NhạcThái Đức (1778 – 1793)Thái Đức thông bảoÍt gặp hơn tiền Quang Trung, Cảnh Thịnh
Nguyễn HuệQuang Trung (1788 – 1792)Quang Trung thông bảo, Quang Trung đại bảoThông bảo khá thường gặp; đại bảo ít hơn
Nguyễn Quang ToảnCảnh Thịnh (1793 – 1801)Cảnh Thịnh thông bảo, Cảnh Thịnh đại bảoThường gặp nhất trong tiền Tây Sơn
Nguyễn Quang ToảnBảo Hưng (1801 – 1802)Bảo Hưng thông bảoÍt gặp, niên hiệu ngắn

Có những đồng khác mà một số tài liệu gắn với nhà Tây Sơn nhưng việc quy thuộc còn bàn. Với người mới, bốn niên hiệu trong bảng là khung đủ dùng.

Thái Đức thông bảo của Nguyễn Nhạc

Thái Đức là niên hiệu dùng lâu nhất của nhà Tây Sơn, từ 1778 đến khi Nguyễn Nhạc mất năm 1793. Dù vậy, tiền Thái Đức lại không phổ biến bằng tiền Quang Trung hay Cảnh Thịnh. Một cách giải thích thường được nêu là vùng Nguyễn Nhạc trực tiếp cai quản hẹp hơn, và sau năm 1788 trung tâm quyền lực của nhà Tây Sơn đã chuyển về phía Nguyễn Huệ ở Phú Xuân.

Đồng Thái Đức thông bảo theo mô tả phổ biến có cỡ vừa phải, chữ chân, mặt lưng phần nhiều để trơn. Cũng như nhiều tiền thời này, có đồng đúc khá đẹp, có đồng thô. Khi đọc, nên cẩn thận với chữ "Đức", vì nhiều niên hiệu khác cũng có chữ này, như Hồng Đức thời Lê sơ hay Minh Đức. Đọc đủ cả hai chữ niên hiệu là cách tránh nhầm đơn giản nhất.

Với người sưu tầm ở miền Trung, đặc biệt vùng Quy Nhơn xưa, tiền Thái Đức có thêm ý nghĩa địa phương: đó là đồng tiền của vùng đất đã sinh ra phong trào Tây Sơn. Ghi lại nơi gia đình tìm được đồng tiền, nếu biết, là một chi tiết đáng giữ trong bảng kê.

Quang Trung thông bảo: đồng tiền của một thời biến động

Quang Trung thông bảo được đúc trong khoảng năm năm Nguyễn Huệ ở ngôi, nhưng số loại khác nhau lại rất nhiều: khác cỡ, khác độ dày, khác kiểu chữ, khác mặt lưng. Ngoài loại "thông bảo" còn có "Quang Trung đại bảo". Một số đồng có chữ ở mặt lưng, trong đó hay được nhắc là loại mang hai chữ "An Nam"; nhiều đồng khác để trơn hoặc có dấu nhỏ.

Người chơi chuyên đề thường xếp tiền Quang Trung theo các nhóm: cỡ lớn, cỡ vừa, cỡ nhỏ; mặt lưng trơn, mặt lưng có chữ; kiểu chữ ngay ngắn hay kiểu chữ vụng. Không có một danh mục thống nhất được mọi người công nhận, nên khi đọc tài liệu khác nhau bạn sẽ thấy cách đặt tên biến thể khác nhau. Điều quan trọng là bảng kê của chính bạn mô tả đủ để người khác hiểu đồng tiền trông thế nào.

Về những câu chuyện quanh đồng tiền, như việc tiền Quang Trung được đúc từ đồ đồng thu được sau trận đánh này hay trận đánh kia, nên coi đó là lời kể chưa được chứng minh trên hiện vật. Một đồng Quang Trung thông bảo có giá trị lịch sử ở chính nó, không cần gán thêm một sự kiện cụ thể.

Cảnh Thịnh và Bảo Hưng: những đồng tiền cuối của nhà Tây Sơn

Cảnh Thịnh thông bảo là đồng tiền Tây Sơn dễ gặp nhất. Niên hiệu Cảnh Thịnh kéo dài khoảng tám năm, dài hơn Quang Trung, và tiền được đúc với số lượng đáng kể. Cũng có loại "Cảnh Thịnh đại bảo" và nhiều biến thể về cỡ, chữ, mặt lưng tương tự tiền Quang Trung. Chất lượng giảm dần về cuối, phản ánh tình thế ngày càng khó khăn của triều đình.

Bảo Hưng là niên hiệu cuối cùng, dùng trong thời gian rất ngắn trước khi nhà Tây Sơn sụp đổ. Tiền Bảo Hưng thông bảo vì thế ít gặp hơn hẳn. Khi gặp, nên kiểm tra kỹ vì niên hiệu ngắn thường là đối tượng của hàng đúc lại.

Nhìn chung, nếu hũ tiền gia đình của bạn có tiền Tây Sơn, khả năng cao nhất là Cảnh Thịnh, tiếp đến là Quang Trung. Thái Đức và Bảo Hưng là hai ô khó lấp hơn trong một bộ tiền Tây Sơn đủ bốn niên hiệu.

Vì sao tiền Tây Sơn nhiều kiểu và không đều

Đúc ở nhiều nơi. Trong thời chiến, việc đúc tiền có thể diễn ra ở nhiều địa điểm khác nhau, mỗi nơi có khuôn mẫu, thợ, hợp kim riêng, tạo ra những khác biệt dễ thấy.

Nguồn kim loại thất thường. Khi thiếu đồng, tỉ lệ pha các kim loại khác thay đổi, khiến màu sắc, độ nặng, độ bền của tiền khác nhau giữa các đợt.

Áp lực thời gian. Cần tiền gấp cho chiến tranh, việc chăm chút khuôn và hoàn thiện đồng tiền không được ưu tiên như thời bình.

Tiền đúc ngoài quan xưởng. Như các thời trước, tiền mang niên hiệu Tây Sơn cũng có thể được đúc bởi các lò ngoài triều đình, góp thêm vào sự đa dạng.

Đúc lại về sau. Vì tiền Tây Sơn được ưa chuộng, có những đồng đúc lại ở thời gần đây. Loại này cần được tách khỏi tiền cổ thật, và bài riêng về nhận biết đồ đúc lại trên trang sẽ đi sâu.

Những lời rao hay gặp về tiền Tây Sơn

Vì gắn với hình ảnh Quang Trung, tiền Tây Sơn thường được giới thiệu kèm những lời rất hấp dẫn. Dưới đây là các câu hay gặp và cách nhìn tỉnh táo:

  • "Tiền Quang Trung thưởng quân sau trận Đống Đa": không có cách nào chứng minh một đồng tiền cụ thể đã được dùng vào việc đó. Đây là lời kể để tăng sức hút.
  • "Đồng duy nhất còn lại": rất hiếm khi đúng. Tiền đúc theo khuôn, mỗi khuôn cho ra nhiều đồng, và các phát hiện mới vẫn tiếp tục xuất hiện.
  • "Mặt lưng chữ lạ, chưa ai thấy": có thể là biến thể thật, nhưng cũng có thể là đồ đúc mới. Biến thể chưa từng được ghi nhận càng cần được người có chuyên môn xem trực tiếp.
  • "Hũ tiền Tây Sơn nguyên vẹn mới đào": nếu thật là phát hiện mới, đó là việc cần báo cơ quan văn hoá địa phương theo quy định về di vật, không phải hàng để rao.
  • "Tiền Tây Sơn đúc bằng đồng đỏ nguyên chất": tiền cổ hầu hết là hợp kim; màu đỏ tươi đều khắp bề mặt thường là dấu hiệu của đồng mới hoặc đã bị đánh bóng mạnh.

Những câu như vậy không làm một đồng tiền thật trở nên giả, nhưng chúng là tín hiệu để bạn chậm lại, xem kỹ hiện vật và hỏi thêm nguồn gốc trước khi tin.

Xếp một bộ tiền Tây Sơn theo niên hiệu và biến thể

Tiền Tây Sơn chỉ có bốn niên hiệu chính nhưng nhiều biến thể, nên rất hợp để làm một bộ chuyên đề nhỏ mà sâu:

  1. Mở bốn ô chính theo thứ tự: Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh, Bảo Hưng.
  2. Trong ô Quang Trung và Cảnh Thịnh, chia tiếp theo chữ tên tiền: "thông bảo" và "đại bảo".
  3. Chia tiếp theo mặt lưng: trơn, có chữ, có dấu nhỏ. Chụp ảnh mặt lưng rõ nét cho từng đồng.
  4. Chia theo cỡ: đo đường kính bằng thước kẹp, ghi đến phần mười milimét để thấy khác biệt thật.
  5. Đặt tên biến thể theo mô tả của chính bạn, ví dụ "Cảnh Thịnh thông bảo, cỡ nhỏ, lưng trơn, chữ Thịnh nét đậm", thay vì mượn mã của một danh mục mà bạn không chắc.
  6. Ghi nguồn gốc từng đồng; với tiền nhận từ gia đình, ghi lại câu chuyện người trong nhà kể về hũ tiền.

Sau một thời gian, bộ chuyên đề này sẽ cho bạn thấy rõ sự thay đổi chất lượng tiền qua từng niên hiệu, một cách đọc lịch sử nhà Tây Sơn bằng hiện vật.

Câu hỏi thường gặp

Đồng tiền nào phổ biến nhất của nhà Tây Sơn?

Cảnh Thịnh thông bảo của Nguyễn Quang Toản thường được coi là phổ biến nhất, tiếp theo là Quang Trung thông bảo. Thái Đức thông bảo của Nguyễn Nhạc và Bảo Hưng thông bảo ít gặp hơn. Đây là nhận xét tương đối từ các bộ sưu tập, không phải số liệu đúc chính thức.

Quang Trung đại bảo khác Quang Trung thông bảo thế nào?

Khác ở chữ tên tiền: "đại bảo" thay cho "thông bảo". Quang Trung đại bảo ít gặp hơn. Cả hai đều mang niên hiệu Quang Trung của Nguyễn Huệ. Việc dùng nhiều chữ tên tiền khác nhau trong cùng niên hiệu là hiện tượng thấy ở nhiều triều, không riêng Tây Sơn.

Chữ "An Nam" ở mặt lưng tiền Quang Trung có ý nghĩa gì?

Theo cách hiểu phổ biến, đó là tên gọi đất nước mà các triều đại phương Bắc dùng trong quan hệ ngoại giao thời ấy. Lý do đưa hai chữ này lên mặt lưng đồng tiền không được sử cũ giải thích rõ, nên các giả thuyết về mục đích chỉ nên đọc như ý kiến.

Tiền Tây Sơn có phải được đúc từ chuông, tượng đồng không?

Có những lời kể như vậy, nhưng chưa có bằng chứng chắc chắn gắn một đồng tiền cụ thể với việc nấu chuông, tượng hay vũ khí. Nên tách lời kể khỏi hiện vật. Một đồng tiền Tây Sơn thật vẫn có giá trị lịch sử mà không cần câu chuyện đi kèm.

Vì sao Thái Đức thông bảo ít gặp dù niên hiệu dài?

Một cách giải thích là vùng do Nguyễn Nhạc trực tiếp cai quản hẹp hơn và sau năm 1788 trung tâm quyền lực đã chuyển sang Nguyễn Huệ. Ngoài ra, số lượng đúc và tỉ lệ còn sót lại phụ thuộc nhiều yếu tố mà sử cũ không ghi đầy đủ.

Có nên làm sạch tiền Tây Sơn cho dễ đọc chữ không?

Chỉ nên phủi bụi đất bằng bàn chải mềm khô. Không ngâm giấm, chanh, axit hay chà giấy nhám, vì có thể làm mất chữ và lớp gỉ tự nhiên. Nếu chữ quá mờ, chụp ảnh với ánh sáng xiên thường giúp đọc tốt hơn mọi cách làm sạch.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183