Tiền nhà Nguyễn là tiền đúc dưới các vua Nguyễn từ 1802 đến giữa thế kỷ 20, gồm cả tiền đồng và tiền kẽm, mang niên hiệu từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đến Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại. Đây là nhóm tiền cổ có nhiều niên hiệu nhất trên một nền tiền tệ tương đối thống nhất, và là nhóm cuối cùng của tiền lỗ vuông Việt Nam.
Tiền nhà Nguyễn có mặt trong rất nhiều gia đình, từ những xâu tiền kẽm dính chặt trong hũ sành đến vài đồng Khải Định, Bảo Đại sáng màu cất trong hộp kỷ niệm. Bài này lập bảng niên hiệu, giải thích cách tính quan, tiền, đồng thời Nguyễn, phân biệt tiền đồng với tiền kẽm, kể lại những năm 1883 – 1885 nhiều vua ngắn ngủi, và mô tả bước chuyển từ đúc khuôn sang dập máy.
Tiền tệ đầu thế kỷ 19: một triều mới, một hệ thống mới
Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt niên hiệu Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân, nay là thành phố Huế. Sau hơn hai thế kỷ chia cắt, triều đình có nhu cầu thống nhất nhiều thứ, trong đó có tiền tệ. Tiền Gia Long thông bảo được đúc bằng đồng và kẽm, và từ đây việc đúc song song hai loại kim loại trở thành đặc điểm của tiền nhà Nguyễn.
Đơn vị tính thời Nguyễn thường được mô tả như sau: một quan bằng mười tiền, một tiền bằng sáu mươi đồng. Khi người xưa nói "một quan tiền", họ đang nói tới một xâu lớn gồm nhiều trăm đồng tiền lẻ xâu lại. Tiền đồng và tiền kẽm có giá trị khác nhau, và tỉ lệ quy đổi giữa hai loại thay đổi theo thời; tài liệu phổ thông thường không ghi một con số cố định cho cả triều.
Bên cạnh tiền lỗ vuông, nhà Nguyễn còn có các loại bạc nén, tiền bạc và vàng dùng trong thanh toán lớn hay ban thưởng. Những hiện vật bằng bạc, vàng là một mảng riêng của sưu tầm kim loại quý; bài này chỉ nói về tiền đồng và tiền kẽm lỗ vuông, thứ người dân dùng hằng ngày.
Bảng niên hiệu và tiền nhà Nguyễn
Bảng theo thứ tự thời gian các vua Nguyễn có tiền lỗ vuông được nhắc nhiều. Năm trị vì là mốc thông dụng; cột cuối ghi điểm người sưu tầm nên nhớ.
| Vua | Trị vì | Đồng tiền | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Gia Long | 1802 – 1819 | Gia Long thông bảo | Có tiền đồng và tiền kẽm; thường gặp |
| Minh Mạng | 1820 – 1840 | Minh Mạng thông bảo | Rất thường gặp; có những đồng cỡ lớn đặc biệt |
| Thiệu Trị | 1841 – 1847 | Thiệu Trị thông bảo | Thường gặp |
| Tự Đức | 1848 – 1883 | Tự Đức thông bảo, Tự Đức bảo sao | Triều dài, nhiều loại và nhiều cỡ |
| Kiến Phúc | 1883 – 1884 | Kiến Phúc thông bảo | Ở ngôi ngắn, ít gặp |
| Hàm Nghi | 1884 – 1885 | Hàm Nghi thông bảo | Ít gặp |
| Đồng Khánh | 1885 – 1889 | Đồng Khánh thông bảo | Ít đến trung bình |
| Thành Thái | 1889 – 1907 | Thành Thái thông bảo | Khá thường gặp, có tiền đồng và kẽm |
| Duy Tân | 1907 – 1916 | Duy Tân thông bảo | Trung bình |
| Khải Định | 1916 – 1925 | Khải Định thông bảo | Làm bằng máy dập, cỡ nhỏ |
| Bảo Đại | 1926 – 1945 | Bảo Đại thông bảo | Có loại đúc và loại dập; một trong những tiền lỗ vuông cuối cùng |
Hai vua Dục Đức và Hiệp Hoà ở ngôi rất ngắn năm 1883; tiền mang niên hiệu của họ nếu có thì cực ít và nhiều đồng được rao bán không có căn cứ chắc chắn. Bảng không đưa vào để tránh gây hiểu lầm.
Tiền đồng và tiền kẽm nhà Nguyễn khác nhau thế nào
Màu và cảm giác cầm. Tiền đồng có màu vàng nâu tới đỏ nâu, nặng tay. Tiền kẽm xám, nhẹ hơn rõ, bề mặt hay rỗ hoặc phủ lớp trắng bột khi bị ăn mòn.
Độ bền. Tiền đồng chịu thời gian tốt, chữ thường còn đọc được. Tiền kẽm giòn, dễ vỡ khi rơi, dễ dính thành khối khi nằm lâu trong hũ ẩm.
Mức gặp. Trong hũ tiền gia đình, đặc biệt ở miền Trung và miền Nam, tiền kẽm nhà Nguyễn có thể rất nhiều, nhưng đồng còn nguyên, đọc rõ chữ lại không nhiều.
Cách xử lý. Tiền kẽm cần nhẹ tay hơn. Không ngâm nước lâu, không nạy mạnh để tách khối; nếu cần tách, nhờ người có kinh nghiệm hoặc để nguyên khối như một hiện vật.
Ghi chép. Trong bảng kê, nên ghi rõ chất liệu đồng hay kẽm bên cạnh niên hiệu, vì cùng một niên hiệu có thể có cả hai loại và chúng là hai mục khác nhau trong bộ sưu tập.
An toàn. Lớp bột trắng trên tiền kẽm mục và bụi đất trong hũ tiền không nên hít hay để dính lâu trên tay. Làm việc ở chỗ thoáng, rửa tay sau khi phân loại, không để trẻ nhỏ cầm chơi, và không dùng giấm hay axit để thử làm sạch, vì kẽm phản ứng mạnh và đồng tiền có thể mất chữ chỉ sau một lần ngâm.
Minh Mạng, Tự Đức và những đồng cỡ lớn
Ngoài đồng tiền tiêu dùng thông thường, nhà Nguyễn còn đúc những đồng cỡ lớn hơn hẳn, có đồng mang chữ hoặc hình trang trí ở mặt lưng. Nhiều tài liệu mô tả chúng là tiền dùng để ban thưởng, biểu tặng trong các dịp đặc biệt, không phải để tiêu hằng ngày. Thời Minh Mạng và Tự Đức là hai triều hay được nhắc gắn với loại tiền này.
Dưới thời Tự Đức còn có các đồng mang chữ "Tự Đức bảo sao" với chữ chỉ giá trị ở mặt lưng, được hiểu là những đồng có mệnh giá lớn hơn đồng tiền thường. Đây là nỗ lực của triều đình nhằm giải quyết khó khăn tiền tệ cuối thế kỷ 19. Chi tiết về từng mệnh giá và cách lưu hành thực tế, người mới nên đọc trong các công trình nghiên cứu chuyên sâu hoặc hỏi người chơi lâu năm, thay vì tin vào một bảng tóm tắt trên mạng.
Những đồng cỡ lớn, có hình trang trí, cũng là nhóm bị làm giả và đúc lại nhiều nhất trong tiền nhà Nguyễn, vì chúng đẹp và dễ gây ấn tượng. Một đồng cỡ lớn chữ quá sắc, màu đều, lại xuất hiện cùng lúc với nhiều đồng giống hệt, là lý do để chậm lại và nhờ người có chuyên môn xem trước khi tin.
Những năm 1883 – 1885: bốn vua trong ba năm
Sau khi Tự Đức mất năm 1883, triều Nguyễn bước vào giai đoạn rối ren nhất. Trong khoảng ba năm, ngai vàng đổi chủ nhiều lần: Dục Đức ở ngôi chỉ vài ngày, Hiệp Hoà vài tháng, Kiến Phúc khoảng nửa năm, rồi Hàm Nghi lên ngôi khi còn rất trẻ và chỉ ở ngôi tới năm 1885 trước khi rời kinh thành, phát động phong trào Cần Vương. Đồng Khánh được đưa lên thay.
Với tiền tệ, những triều ngắn như vậy để lại rất ít tiền. Kiến Phúc thông bảo và Hàm Nghi thông bảo đều ít gặp; tiền Hàm Nghi còn được trân trọng vì gắn với hình ảnh một vị vua trẻ chống Pháp. Chính vì thế, đây cũng là những niên hiệu thường xuyên có hàng đúc lại trên thị trường.
Khi gặp một đồng mang niên hiệu của giai đoạn này, cách làm hợp lý là so sánh kỹ với ảnh trong bảo tàng hoặc tài liệu đã xuất bản, cân và đo, xem lớp gỉ có tự nhiên không, và giữ thái độ "chưa xác định" cho tới khi có ý kiến của người có chuyên môn. Một ô trống trong bộ sưu tập vẫn tốt hơn một ô lấp bằng đồng tiền không rõ ràng.
Từ đúc khuôn đến dập máy: Khải Định và Bảo Đại
Đầu thế kỷ 20, tiền giấy của Ngân hàng Đông Dương và các đồng xu của chính quyền thuộc địa đã chiếm phần lớn lưu thông ở đô thị. Tiền lỗ vuông của triều đình vẫn được đúc nhưng vai trò thu hẹp dần. Bước chuyển kỹ thuật rõ nhất là đồng Khải Định thông bảo: nó được làm bằng máy dập thay vì đúc khuôn, nên cạnh đều, chữ sắc, bề mặt phẳng, khác hẳn mọi đồng tiền lỗ vuông trước đó.
Bảo Đại thông bảo, đồng tiền của vị vua cuối cùng, có cả loại đúc khuôn và loại dập máy theo mô tả của nhiều tài liệu. Đây là một trong những đồng tiền lỗ vuông cuối cùng của Việt Nam, khép lại dòng hiện vật bắt đầu từ Thái Bình hưng bảo gần một nghìn năm trước.
Vì làm bằng máy, tiền Khải Định trông "mới" hơn tuổi thật, và người mới hay nghi là đồ giả. Ngược lại, chính sự đều đặn của tiền dập máy khiến việc làm giả bằng cách đúc dễ bị lộ: một đồng "Khải Định" có cạnh sần, chữ nhoè, bề mặt rỗ như tiền đúc là điểm đáng nghi. Biết kỹ thuật chế tạo của từng thời là một công cụ nhận biết rất hữu ích.
Phân loại một hũ tiền nhà Nguyễn
Hũ tiền nhà Nguyễn thường lớn, lẫn tiền kẽm dính khối. Trình tự sau giúp làm việc gọn và an toàn:
- Trải giấy báo cũ hoặc khay lên bàn ở chỗ thoáng, đeo găng tay vải hoặc găng nitrile mỏng.
- Tách tiền đồng và tiền kẽm thành hai đống theo màu và độ nặng; khối kẽm dính để riêng, không cố nạy.
- Với tiền đồng, đọc niên hiệu và xếp theo thứ tự trong bảng: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, rồi các vua sau.
- Với tiền kẽm, chỉ đọc những đồng còn rõ chữ; những đồng mục ghi chung là "kẽm, không đọc được" kèm số lượng.
- Chọn ra đồng đẹp nhất của mỗi niên hiệu làm đại diện, cất vào túi giấy không axit có ghi nhãn.
- Ghi bảng kê tổng: mỗi niên hiệu bao nhiêu đồng, chất liệu gì, tình trạng ra sao, kèm nguồn gốc hũ tiền.
- Rửa tay kỹ bằng xà phòng sau khi làm, cất tiền ở nơi khô ráo, xa tầm với của trẻ nhỏ.
Một hũ tiền nhà Nguyễn được phân loại cẩn thận cho bạn một bức tranh khá đầy đủ về tiền tệ trong đời sống người Việt thế kỷ 19, ngay trên bàn nhà mình.
Câu hỏi thường gặp
Tiền nhà Nguyễn nào dễ gặp nhất?
Minh Mạng thông bảo, Thiệu Trị thông bảo, Tự Đức thông bảo và Gia Long thông bảo thường gặp nhiều nhất, cả bằng đồng lẫn bằng kẽm. Thành Thái thông bảo cũng khá thường gặp. Tiền của các vua ở ngôi ngắn năm 1883 – 1885 hiếm hơn hẳn.
Một quan tiền thời Nguyễn gồm bao nhiêu đồng?
Theo cách tính thường được mô tả, một quan bằng mười tiền, một tiền bằng sáu mươi đồng, tức một quan là sáu trăm đồng tiền lẻ. Tiền đồng và tiền kẽm có giá trị khác nhau và tỉ lệ quy đổi giữa chúng thay đổi theo thời.
Khải Định thông bảo trông mới quá, có phải đồ giả không?
Không hẳn. Khải Định thông bảo được làm bằng máy dập nên cạnh đều, chữ sắc, bề mặt phẳng, trông mới hơn các đồng đúc khuôn. Chính đồng Khải Định có dấu hiệu của tiền đúc, như cạnh sần, chữ nhoè, mới là điều đáng nghi.
Đồng tiền cuối cùng có lỗ vuông của Việt Nam là đồng nào?
Bảo Đại thông bảo của vị vua cuối cùng nhà Nguyễn thường được nhắc như một trong những đồng tiền lỗ vuông cuối cùng. Bên cạnh đó, chính quyền thuộc địa cũng từng phát hành những đồng xu nhỏ có lỗ, nhưng đó là một mảng khác của lịch sử tiền tệ.
Tiền kẽm dính thành khối có nên tách ra không?
Không nên tự nạy mạnh, vì tiền kẽm giòn và dễ vỡ. Có thể để nguyên khối như một hiện vật, ghi rõ trong bảng kê. Nếu muốn tách, nhờ người có kinh nghiệm bảo quản kim loại. Tuyệt đối không dùng axit hay chất tẩy để làm tan lớp gỉ.
Những đồng tiền nhà Nguyễn cỡ lớn có hình trang trí là gì?
Nhiều tài liệu mô tả đó là tiền dùng để ban thưởng, biểu tặng, không phải tiền tiêu dùng hằng ngày. Loại này hay được nhắc gắn với thời Minh Mạng, Tự Đức. Vì đẹp và gây ấn tượng nên đây cũng là nhóm bị đúc lại nhiều, cần thận trọng khi gặp.